Home

User login

Ý Xuân Trong Kinh

Như Đức

          Vào năm mới, chúng ta thường chúc nhau: Hạnh phúc, bốn mùa bình an, phát tài phát lộc v.v… Những lời chúc đó là ước vọng, mong muốn chung của tất cả. Chúng ta gọi nó là miền hạnh phúc, cõi bờ hạnh phúc, và có lẽ suốt đời tồn sinh đều là đi tìm hạnh phúc.

          Cô bé ba tuổi, tóc cột nơ xinh xắn, mặt mày rạng rỡ đưa tay chỉ trên bàn viết của tôi: Kẹo kìa! Trong khi tôi còn chưa nhớ ra mình có bao nhiêu viên kẹo để giữa sách vở ngổn ngang. Chỉ có bé nhận ra nhanh nhất, và hạnh phúc khi cầm viên kẹo thì không thể tả. Cô bé này lớn lên sẽ không cần viên kẹo ngọt, mà niềm vui là lúc xuân về, cùng bạn bè diện áo hoa quần lục, đi chơi phố.

Xuân đâu có tàn

Hạnh Chiếu

          Xuân thì lúc nào chẳng là xuân, lúc nào chẳng đẹp. Có ai đi tả một mùa xuân với mưa rơi lả tả lá vàng bay? Xuân tàn thì không gọi là Xuân nữa mà là Hạ, Thu, Ðông. Nói như vậy cũng không phải. Thật ra Hạ, Thu, Ðông cũng chỉ là Xuân với một chút sắc màu đổi gam mà thôi.

          Nhìn cuộc đời như một mùa xuân luôn chuyển mình trên muôn vật thì thật là dễ chịu. Ừ, mà chính hiệu là như vậy đó chứ! “Chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng”, các pháp từ xưa nay, thường ở trong tướng vắng lặng của nó. Dù có thiên hình vạn trạng tới đâu, các pháp vẫn là không, vẫn im lặng trong tướng tịch diệt ấy. Chỉ có điều ta không chịu thế, nên cứ hối tiếc không nguôi về một mùa xuân năm ngoái hay thả mộng vào mơ đến một mùa xuân năm sau và từ chối phút giây hiện tại. Sẽ có một ngày… Sao không là hôm nay, mà phải ngày mai? Thật là tội nghiệp cho mình quá, bởi vì ngày mai đâu có đâu.

Về Một Niềm Tin

Thuần Chánh

        "Tôi không dám khinh các Ngài, các Ngài sẽ là Phật". Khi đọc tới phẩm kinh này, tôi vẫn ngạc nhiên về niềm tin chắc chắn, về sự khẳng định tuyệt đối này. Tôi không dám nói là mình hoài nghi nhưng tin như ngài Thường Bất Khinh ư? Tôi cũng không dám bảo là tin.

-oOo-

        Lúc nhỏ, có lần tôi làm bể cái ly ở trong tủ, tôi không dám đến gần tủ. Khi nghe má tôi rầy bà chị, tôi mừng quá. Thoát nạn! Má tôi đâu có ngờ là tôi. Tôi có khi nào rửa chén; mà mở tủ lấy ly lại càng không có! Dĩ nhiên là bà chị tôi đâu có thanh minh là chị vô tội, vì rửa ly chén và dọn dẹp tủ là bổn phận của chị.

Viên Chiếu Thuở Vị Thành Niên

Hạnh Đoan

        Khi khu vườn Viên Chiếu hoa nở ngát hương, những cánh chim trưởng thành lần lượt tiếp sức đầu đàn dắt dìu đàn em, thì người ta luôn bắt gặp những nhân dáng trang trọng, nghiêm túc để có thể xứng đáng làm mô phạm cho hậu sinh, nên ít ai biết, tưởng tượng được đến cái thời đầu ngô nghê của Viên Chiếu, cái thuở vị thành niên còn nhiều bất toàn, và nụ cười hồn nhiên còn rộn rã ngân vang.

        Từ Bát Nhã xuống Viên Chiếu, mỗi người được phát cái thùng giấy to để đựng “gia tài sản nghiệp” gồm ba bộ đồ, mùng mền, vật dụng tùy thân. Chỉ có cái đơn cô Đức là vật thể an toàn duy nhất, nằm giữa trung tâm cái cốc lá râu ria, đựng đủ thứ đồ hằm bà lằng, gồm tài sản riêng cô và của chung cả chùa – nghĩa là ngoài chiếc thùng giấy – chúng tôi cần gì cứ giở đơn cô ra lấy: tập vở, đơn từ, dây thun luồn quần, kim chỉ, nút, viết…

Trái tim thái tử Tu Đại Noa

Thuần Chánh

        Mới đây thôi, khi học đến phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa, chúng tôi thảo luận về sự bố thí và nhắc đến thái tử Tu-đại-noa. Cái gút nằm ở chỗ Thái tử cho hai đứa trẻ và công chúa.

        Từ lúc biết đọc truyện cổ tích Phật giáo, tôi đã không thích câu chuyện này ở cái gút đó. Thái tử phát tâm bố thí, ông muốn cho lâu đài, thành quách, châu báu gì thì cứ việc cho, có muốn bố thí sinh mạng ông cho tròn hạnh nguyện cũng được, tôi không nói tới.

        Nhưng cho hai đứa trẻ và công chúa là điều không thể chấp nhận. Cho vợ con là việc làm vô nhân bản, không thể coi hai trẻ và công chúa như một vật vô tình sở hữu. Và tôi không ưa được đoạn oái ăm đó, một đoạn lý đáng rất cảm động.

Tầm Xuân

Như Đức

        Khi tôi cho xây lại bờ con suối, chỗ bị nước xói mòn hư hao nghiêm trọng, tôi có cảm giác như mình phạm một lầm lỗi với thiên nhiên. Phía bờ đối diện vẫn còn bờ đất thô sơ, mấy cây dừa bụi tre an nhàn, và một dãy sen mọc lân la bên bờ cỏ gần nước. Vậy mà bên này đại chúng vẫn hì hục tấn đá, đổ đất, đổ cột beton – Viễn cảnh sẽ có một bờ rào bằng lưới B40 bao quanh, tăng vẻ kiên cố chắc chắn lạnh lùng, và mấy chùm hoa khế không có dịp thò đầu vươn cánh nhìn xuống nước.

        Một thời bình an trôi qua. Bên mé suối cạn lửng lờ, cô bé em của Huệ Đức ngồi giặt đồ và ca hát véo von. Bờ còn hẹp, hai cây tre bắc ngang song song đủ cho mấy cô ngồi thòng chân, rửa sạch bùn đất từ mép quần công tác, sau đó phơi khô khỏi giặt giũ. Mấy con sóc chạy lăng quăng chỗ cây dẻ già to tướng, hai tay ôm bận bịu cất giấu thức ăn. Chim chóc thì véo von đủ kiểu. Chúng có ngôn ngữ của một miền yên tĩnh, không bận tâm nhiều cho một khoảng đời chẳng lâu dài lắm. Từng thứ ấy, cây rừng, bờ nước, trời đêm ngút ngàn sao đã nuôi dưỡng vỗ về chúng tôi một thuở.

Sự Im Lặng Của Ban Rẫy

Giải Thiện

        Ban rẫy ba người: Rẫy đầu, rẫy bụng và rẫy đuôi. Ba người rẫy ấy đều có cường độ âm thanh của bè cao, do đó lúc nào trong chúng cũng nghe ngoài rẫy có tiếng tăm hoặc cười giỡn, hoặc nói dóc, hoặc bàn bạc món ăn, hoặc hét toáng lên để tranh phần hơn...

        Khi nào trong giờ công tác, nghe ngoài rẫy im lặng thì trong chúng biết là có chuyện lạ. Nếu bạn âm thầm đi thăm rẫy lúc đó, sẽ thấy có một người trong ba người, mặt mày đang nghiêm trọng, môi bặm lại, mắt trừng trừng như lom lom quán chiếu dữ dội, vì ý kiến mình bị bác bỏ. Bởi được huấn luyện theo đường lối tỉnh giác quay lại chính mình, nên hành giả rẫy ấy không cho phép mình khoa tay múa chân đấm đá lung tung, hay miệng tự do oang oang nói nhiều những lời phi lịch sự. Vì chưa đến chỗ rốt ráo nên gương mặt của hành giả rẫy lúc ấy chẳng giống ai, nếu chúng ta đến gần người ấy, chúng ta sẽ thấy khí carbonic nhiều hơn oxy. Do đó, hai người rẫy kia đành phải đi làm chỗ khác, vì tôn trọng bạn mình đang chiến đấu để làm thánh, hoặc là nóng quá né đi chỗ khác cũng có. Thế là không khí im lìm đang bao trùm lên ban rẫy, lên rau cải, lên giếng nước, lên xoa thùng, lên máy móc và cả những con bướm đang chập chờn trên bông cải cũng không dám nhịp cánh mạnh. Vì sự im lặng này khí trược nhiều hơn thanh, chẳng giống sự im lặng của người xưa:

Sinh Hoạt Buổi Đầu Của Ni Giới Tại Sài Gòn

        Lịch sử của Sài Gòn cũng là lịch sử chung của những thành phố quan yếu. Mỗi người, mỗi đoàn thể, mỗi dân tộc sinh sống trên đó, đóng góp cho Sài Gòn từng mảng lịch sử riêng, và tất cả những cái riêng hòa nhập vào nhau, kỷ niệm của mỗi đời sống cùng chảy theo dòng biến động lịch sử.

        Vào khoảng đầu thế kỷ 20, Sài Gòn là nơi tập trung những hoạt động văn hóa xã hội, kể cả hoạt động Phật giáo. Tổ đình Giác Lâm, Giác Viên một thời đã đào tạo các bậc Tăng sĩ trí thức, hàng long tượng tăng già xuất phát từ đó cũng nhiều, chư tôn Hòa thượng từ các miền, các tỉnh thường về Sài Gòn hoạt động, đẩy mạnh phong trào chấn hưng Phật giáo. Trong khung cảnh ấy, Ni giới miền Nam cũng chịu ảnh hưởng. Các bậc Ni tiền bối Sài Gòn, có dịp tiếp cận với những tư tưởng mới, nhờ sự giáo dục và nâng đỡ của các bậc thầy, đã hoạt động tích cực để thay một lớp áo mới cho giáo đoàn của mình. Trên văn đàn Từ Bi Âm, trong những tập bút ký và thơ ca, còn ghi lại dấu tích của các Ni trưởng Diệu Tịnh (khai sơn Hải Ấn Ni Tự), Ni trưởng Diệu Tấn (sáng lập Ni trường Kim Sơn), Ni trưởng Diệu Tánh (tức Sư trưởng Huê Lâm).

Sài gòn 300 năm

Như Đức

        Tôi có tự hứa sẽ viết bài để mừng tuổi Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh 300 năm. Những lần đi về thành phố định tìm một vài cảm hứng, vào mùa nắng, nóng quá, tàn cây xanh chỉ đủ che mát một khoảng nào đó, chưa kịp nhập đề. Vào mùa mưa, đường phố bỗng dưng thành con suối, văn chương cũng trôi luôn. Sài Gòn không có gì thơ mộng để khi rời nó, người ta còn một chút gì lưu luyến như Đà Lạt, như Huế, như Hà Nội; chỉ thấy khỏe ra khi xe bắt đầu tách bến. Vậy mà khi ở xa, mỗi lần thấy chiếc xe đò có chú lơ thò đầu ra ngoài cửa la lớn ”...Gòn hông?... Gòn hông?”, tôi lại có cảm giác muốn bước lên xe.

        Tôi không phải chính gốc người Sài Gòn. Ông ngoại tôi là ông đồ xứ Quảng. Nhằm thời ”ông nghè ông cống cũng nằm co”, những chàng thư sinh lỡ vận như ông không thể cấy tứ thư, ngũ kinh xuống ruộng, cũng không thể làm thợ... nên phải làm thầy đồ nho lưu động. Nghe người quen giới thiệu, ông vào Sài Gòn tìm được chỗ dạy học ở nhà mấy ông hương chức. Đó là vào thập niên thứ hai của thế kỷ này. Sài Gòn đất rộng làm ăn dễ dàng, ông nhắn bà ngoại tôi vô luôn. Đi bằng ghe bầu, má tôi còn nhớ tên ông chủ ghe là ông Lữ, người cùng quê. Má tôi kể, khi ghe ra biển, người lớn say sóng nằm mẹp; chỉ có con nít như má tôi và mấy đứa con ông Lữ ôm nhau lăn tròn trên sàn ghe, cười đùa thỏa thích.

Nuốt Lời Hứa

Thuần Chánh

        Đời tôi có ba lần đáng nhớ:

-oOo-

        Lần đầu khi ông chú thân với gia đình tôi về phép, ông ghé qua cho biết ngày mai sẽ đến chơi với chúng tôi.

        Cả ngày hôm đó chúng tôi lăng xăng dọn dẹp, chuẩn bị ngày mai đón chú. Cái ngày mai đó, mỗi một tiếng động ở cửa là tôi ngóng cổ ra - có lẽ chú đến. Niềm đợi chờ tắt dần theo ngày. Tôi tự nghĩ, có lẽ chú bận chuyện gì quan trọng lắm mới thất hứa với gia đình tôi, mai chú sẽ đến. Và ngày mai, ngày mai nữa... lịch được đếm từng tờ. Chúng tôi không dám đi chơi đâu hết, sợ chú đến không gặp. Chờ từng ngày, đến hai năm sau thì chú đến, chuyện qua khúc quanh khác. Và ở đây tôi không định kể chuyện đó. Năm đó, tôi học đệ tam.

Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar

Thiền Viện Viên Chiếu