Home

User login

Bài giảng

Ở đời vui đạo

Sư Cô Hạnh Chiếu
Trích từ quyển "Ánh Sáng Tự Tâm"
Trí Đức Ni, 2014

       Tôi xin mượn tiêu đề một bài thơ chữ Nôm của vua Trần Nhân Tông "Ở đời vui đạo" làm đề tài chia sẻ với quý Phật tử hôm nay. Đây là bài thơ vua Trần Nhân Tông làm sau khi Ngài đã thâm hiểu Phật pháp nhưng vẫn còn sống đời tại gia cư sĩ. Từ sự cuộc sống phức tạp của mình nên đã có được niềm vui.

       Đọc lại lược sử về vua Trần Nhân Tông, chúng ta thấy Ngài là người có chủng duyên sâu với Phật pháp, vì có chủng duyên nên Ngài muốn đi tu và nhường ngôi Thái tử cho em trai. Điều này cho thấy thiện căn của Ngài rất lớn. Thế nhưng hoàn cảnh không cho phép nên Ngài phải miễn cưỡng lên ngôi.

       Phật tử thường hay tâm tình với thầy cô: "Con tiếc là phải chi con đi tu trước đây mấy chục năm". Tức là đến lúc biết đạo rồi chúng ta mới thấy tiếc. Tiếc là bởi không ai bắt mình phải chọn con đường khổ, vậy mà ta chọn. Trong chúng ta có người vì hoàn cảnh bắt buộc phải chọn như vậy, nhưng cũng có người tự chọn. Đến khi lao vào cuộc sống do chính mình chọn thì lại không ngờ khổ đến thế. Tuy nhiên, thấy "không ngờ" thì cũng là một dấu hiệu tốt. Bởi điều đó có nghĩa chúng ta đã thức tỉnh, thông thường người ta chỉ thức tỉnh khi gặp những điều bất như ý trong cuộc sống, bấy giờ mới chịu từ bỏ những thú vui tạm bợ của thế gian, nhận ra cuộc sống thế gian vui ít mà khổ nhiều.

Thường vui với chính mình

NS. Như Đức
Giảng tại TV. Diệu Nhân
tháng 10/2012

          Cô qua đây, gặp lại Diệu Nhân và các Phật tử quen thuộc Diệu Nhân cô rất là mừng. Mười năm. Mười năm kể từ lúc bắt đầu thành lập Diệu Nhân. Hồi đó cô nhớ cũng tại ga ra này - chỉ là cái nhà nhỏ thôi, buổi thuyết pháp đầu tiên của cô ở đây các vị ngồi nghe pháp mà mồ hôi đổ rất “lâm li” bởi vì trời nóng quá. Bây giờ tiện nghi được cải thiện cô rất mừng. Thứ nhất là nơi chốn cho quý cô quý Phật tử ngồi thiền. Các ni sư huynh đệ của cô, có dịp qua đây đã nói một câu thế này “cảnh hợp với người”. Tất nhiên là cảnh Diệu Nhân có một cái gì đó nói là thơ mộng được không? Nó có lẽ văn vẻ mơ màng hợp với cô.

          Thật ra trong khi xa cách cô vẫn luôn nhớ đến Diệu Nhân, vì đó là ước vọng của Hòa thượng. Khi Hòa thượng qua đây, các huynh đệ Lục Hòa có ý định cúng một nơi để làm thiền viện. Chính Hòa thượng cũng nói với cô, nơi đây và ở dưới San Jose Hoà thượng cũng mong có một thiền viện để các Phật tử tu tập. Vậy trước tiên chúng ta tu tập được ở đây là nhờ ơn đức của Hòa thượng, sự nhớ nghĩ của Hòa thượng đối với các Phật tử xa nhà xa quê, nên quý cô rất hết lòng yểm hộ, hết lòng để giữ gìn cho thiền viện được phát triển tốt đẹp. Nhưng quý vị cũng biết, có rất nhiều nhân duyên, có những cái ngoài dự tính của mình, nhưng cô vẫn tin tưởng với sự gia hộ của Hòa thượng, tấm lòng của quý cô và sự ham tu học của các Phật tử thì chúng ta cũng có một nơi sinh hoạt, vẫn có một đạo tràng tu học rất tốt đẹp, đó là mong ước của cô.

Nhẫn nhục

NS. Hạnh Huệ

Đại sư ViveKananda trong quyển Nhất Nguyên Thế Giới, có nói: “Mọi người chúng ta đến thế gian này để tranh đấu như trên bãi chiến trường. Chúng ta đến đây với những giọt nước mắt để hết sức mở một con đường, để rẽ sóng mà đi trên biển đời vô tận. Chúng ta tiến lên với những thế kỷ dài dặc ở đằng sau và khoảng mênh mông ở đằng trước. Và chúng ta cứ đi như thế cho tới cái chết đến đưa ta ra khỏi chiến trường này dù thành công hay thất bại”.

Cây gậy Thiền

NS. Hạnh Huệ

Trước khi vào đề tài CÂY GẬY THIỀN, tôi xin hỏi quý vị: “Có ai biết con vật gì mà buổi sáng đi bốn chân, buổi trưa đi hai chân và buổi chiều đi ba chân?”

Đó chính là con người. Lúc còn nhỏ, khi mới biết bò, biết lật, biết lẫy thì chúng ta bò bằng bốn chân; khi lớn lên hai ba tuổi thì chúng ta bắt đầu đi hai chân. Còn khi về già, thì chúng ta lại phải dùng thêm cây gậy là chân thứ ba để nó giúp cho chúng ta đi vững vàng. Lúc ấy, cây gậy trở nên rất quan trọng!

Dưới thời đức Phật, có một ông trưởng giả, rất giàu. Hai vợ chồng ông sinh được bốn người con. Khi con cái trưởng thành, ông bà lo cho chúng yên bề gia thất.

Cầu an

NS. Hạnh Huệ

* Tại sao chúng ta lại phải cầu an?

Chúng ta luôn bị bất an, lòng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ sinh mạng, quyền lợi, địa vị, vợ con, tiếng tăm, của cải… của mình bị thương tổn hay bị đe dọa. Và có lẽ những chùa chiền đền miếu là nơi tạo cảm giác an ổn dù tạm thời cho chúng ta, khi mình đến khấn cầu những đấng linh thiêng ở cõi trên, những đấng mà chúng ta nghĩ rằng có đủ quyền uy ban phước và giáng họa. Chính vì lẽ đó mà chúng ta vẫn thường hay bắt gặp nhiều người đến chùa, ngoài việc tự mình khấn vái kêu cầu, còn cúng tiền rồi gởi kèm theo một danh sách “dài nhằng” trong đó có ghi rõ ràng tên tuổi, địa chỉ của mình, của người thân mình… để xin Phật gia hộ cho được bình an, cho cuộc đời xuôi chèo mát mái. Nhưng dường như kết quả thường không toại nguyện. Vì sao? Lòng không thành nên Phật trời chẳng chứng chăng? Hay Phật trời chẳng linh? Không biết! Nhưng vẫn cứ cầu, chỗ này không được thì cầu nơi khác. Ít khi chúng ta xét xem thế nào là an và những điều kiện cần để an. Chúng ta chỉ nghĩ muốn được an vui hạnh phúc là phải có đủ tiếng tăm danh vọng, đủ tiền tài nhà cửa, đủ vợ đẹp con khôn. Có đơn giản thế không?

Ý Nghĩa An Cư Kiết Hạ

HT. Thích Thanh Từ

Trong đạo mỗi năm đều có ba tháng an cư dành cho Tăng Ni, kể từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy. Lý ra ngày an cư tôi có mặt để làm lễ cho quý vị, nhưng vì tôi không có mặt ngay ngày đó, nên hôm nay Trụ trì Thường Chiếu cũng như tất cả Tăng Ni thỉnh tôi nhắc nhở việc tu hành cho quý vị nhân mùa an cư này.

Mùa an cư năm nay Tăng Ni rất đông đảo. Quý vị ở nội viện cũng như ngoại viện Thiền viện Thường Chiếu đều ứng dụng đúng như lời Phật dạy tổ chức ba tháng kiết hạ an cư.

Trước hết, tôi nói ý nghĩa an cư kiết hạ, sau sẽ nhắc thêm những điều cần thiết. Ai cũng biết tháng tư là đầu mùa mưa ở Việt Nam, ở Ấn Độ tháng này mưa nhiều. Hồi xưa thời đức Phật còn tại thế, bình thường chư Tăng Ni đi giáo hóa nơi này nơi nọ, ít ở một chỗ cùng nương nhờ chư Thượng tọa, Đại đức có giới hạnh cao thâm nhắc nhở chỉ dạy tu hành. Đến mùa mưa nước nổi các loài trùng kiến bò ra đường rất nhiều. Chư Tăng, chư Ni đi nay, đi kia sẽ giẫm đạp chúng. Đức Phật vì lòng từ bi chẳng những thương người mà còn thương tất cả các loài trùng kiến nhỏ bé nữa, nên không đành giẫm đạp lên chúng trong mùa nước nổi. Vì vậy, Phật chế ra ba tháng an cư ở yên một chỗ để tránh sát hại côn trùng.

Một tiếng hét

N.S. Hạnh Huệ

Thiền tông được tổ Bồ-đề Đạt-ma truyền từ Ấn Độ sang, Ngài có một bài kệ nổi tiếng:

          Bất lập văn tự,
          Giáo ngoại biệt truyền,
          Trực chỉ nhân tâm,
          Kiến tánh thành Phật.

          Không lập văn tự,
          Truyền riêng ngoài giáo,
          Chỉ thẳng tâm người,
          Thấy tánh thành Phật.

Qua các thiền sư Trung Hoa, “thủ thuật” chỉ thẳng tâm người càng biến chuyển thiên hình vạn trạng. Trong đó, được nhắc đến nhiều nhất là “tiếng hét” của Lâm Tế và “cây gậy” của Đức Sơn. Hôm nay, chúng ta sẽ xem tiếng hét này được sử dụng như thế nào?

Xuất gia – Hoàn gia – Tại gia

N.S. Hạnh Huệ

Là Phật tử, chúng ta cần phải nhận định rõ ràng, đức Phật không phải là một vị thần hay thượng đế để ban ơn, giáng họa cho bất cứ ai. Phật chỉ là người hướng dẫn cho chúng ta con đường để đi tới chỗ an lạc giải thoát. Phật không thể đưa chúng ta lên Thiên đường, hay đày chúng ta xuống địa ngục, mà bản thân mỗi người chúng ta phải tự gánh lấy trách nhiệm đối với cuộc sống của mình, nhận lãnh hậu quả của những gì chính mình tạo ra. Tu sĩ, những người xuất gia, là những người đi theo bước chân của Phật để tự mình thoát khổ và giáo hóa chúng sanh, giúp chúng sanh thoát khỏi phiền não, thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Sự sai biệt giữa Phật học và khoa học

HT. Thích Thanh Từ

Đề tài chúng tôi sẽ trình bày hôm nay là Sự sai biệt giữa Phật học và khoa học. Có thể quí vị cho rằng ai không biết Phật học và khoa học sai biệt. Nhưng sai biệt ở điểm nào, sâu cạn ra sao lại là một vấn đề cần phải thảo luận cho rõ ràng. Để từ đó chúng ta thấy được nếu biết ứng dụng khoa học, Phật học vào cuộc sống sẽ có những lợi ích thế nào.

Có nhiều vị nghiên cứu khoa học mà thiếu phần tìm hiểu Phật học, nên họ nói Phật học có vẻ tiêu cực yếm thế. Số người thấy khoa học lúc nào cũng nghiên cứu, phát minh những điều lợi ích cho nhân loại, còn Phật học không có gì kỳ đặc, do đó họ hiểu lầm Phật học tiêu cực. Ngược lại cũng có một số vị bênh vực Phật học bằng cách chứng minh rằng Phật học cũng là khoa học. Như vậy hai cái nhìn đó khiến cho chúng ta khó biết rõ sự sai biệt của nó như thế nào. Ở đây tôi nói thứ tự sự sai biệt đó theo cái nhìn của chúng tôi.

Ngỗng chúa uống sữa chừa nước

HT. Thích Thanh Từ

Tôi có một câu chuyện muốn nói cho quí vị nghe. Chuyện này cũng với tinh thần chỉ Ông chủ chớ không có gì lạ.

Một sáng, khi xả thiền ra tôi có tuyên bố với một số người rằng: “Tôi quả thật là con ngỗng chúa biết uống sữa, lọc nước chừa lại.” Câu nói đó quí vị nghe lạ đời phải không? Đây là câu nói của các Thiền sư Trung Hoa thời xưa. Lúc trước tôi học tôi tu, đọc câu đó tôi cũng biết nhưng biết hơi ngờ ngờ. Bây giờ đem một bát sữa lại bảo chúng ta uống, chúng ta khôn hơn con ngỗng, nhưng chúng ta có lọc riêng sữa một bên nước một bên, để uống sữa chừa nước lại không? Huống là con ngỗng khờ hơn mình tại sao nó biết lọc sữa uống, còn nước chừa lại.

Như vậy tại sao Thiền sư lại nói như con ngỗng chúa uống sữa, lọc nước chừa lại. Quí vị thử nghiệm xem uống sữa lọc nước lại là gì? Cái gì là sữa, cái gì là nước? Nếu mình không biết rõ cái gì là sữa, cái gì là nước thì thôi cứ uống hết cho rồi. Uống cạn ly cạn bát, chớ không có cách nào khác. Vậy muốn lọc sữa chừa nước lại thì phải lọc bằng cách nào? Dùng phương tiện gì để lọc? Đó là một vấn đề nan giải.